Chỉ số nước ối – Tiêu chuẩn nước ối cần phải biết

0
20
chỉ số nước ối

Chỉ số nước ối là gì?

Chỉ số nước ối là một chỉ số được sử dụng để xác định lượng nước ối. Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của thai nhi, nguồn gốc của nước ối khác nhau thì tiêu chuẩn chỉ số nước ối sẽ khác nhau.

Tiêu chuẩn chỉ số nước ối

Chỉ số nước ối: Chia tử cung thành bốn phần là trên bên trái, trên bên phải, dưới bên trái và dưới bên phải. Đo bề sâu của bốn phần lớn nhất trong khoang ối và tính tổng số các số đo trên, đó chính là chỉ số nước ối (AFI), AFI ≥25cm được chẩn đoán là đa ối. Trong đó, nước ối từ 25-35cm là đa ối mức độ nhẹ, 36-45cm là đa ối mức độ trung bình, >45cm là đa ối nặng, AFI ≤5cm được chẩn đoán là thiểu ối, ≤8cm là nước ối hơi ít.

Độ sâu nước ối: Siêu âm cho thấy độ sâu thẳng đứng của phần nước ối lớn nhất, ≤2cm có nghĩa là nước ối quá ít, ≥8cm là nước ối quá nhiều. Đây là một thuật ngữ y học, là một chỉ số quan trọng để đánh giá lượng nước ối. Khi nước ối quá nhiều, phụ nữ mang thai dễ bị rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ, vỡ ối sớm, vị trí thai nhi bất thường và tăng tỷ lệ sinh non. Khi nước ối quá ít, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh tăng lên đáng kể. Kiểm tra siêu âm cho thấy độ sâu thẳng đứng của phần nước ối lớn nhất và độ sâu nước ối từ 3-7cm là thể tích nước ối bình thường.

Dưới đây là tiêu chuẩn của độ sâu nước ối của mỗi thời kỳ. Bạn có thể tham khảo dữ liệu dưới đây.

Tuần thaiTrung bình(đơn vị: cm)Độ sai lệch
143.310.79
153.600.82
163.550.63
173.930.96
184.140.72
194.300.68
204.550.74
214.630.76
224.780.75
235.090.74
245.090.74
256.340.80
265.420.74
275.470.74
285.540.82
295.500.75
305.500.75
315.510.66
325.480.68
335.490.65
345.480.67
355.400.57
365.420.66
375.230.66
385.110.71
394.950.71
404.740.54

Đo nước ối: Việc đo thể tích nước ối là một chỉ số quan trọng để đánh giá tính bình thường của thai kỳ. Hiện nay, hầu hết các bệnh viện đều sử dụng siêu âm để tìm hiểu tình trạng nước ối và dùng “phương pháp chỉ số nước ối” để xác định xem lượng nước ối có bình thường hay không. Phương pháp là: chia tử cung thành bốn góc phần tư, lần lượt đo riêng độ sâu tối đa của nước ối trong mỗi phần, sau đó cộng lại với nhau. Giá trị tổng nằm trong phạm vi từ 9 đến 24cm và ≤8 là lượng nước ối hơi ít, ≤5 là quá ít nước ối và ≥25cm là quá nhiều nước ối.

Câu hỏi thường gặp về nước ối

Lượng nước ối quá nhiều: Trong thời kỳ mang thai bình thường, lượng nước ối sẽ tăng khi tuổi thai tăng dần và giảm dần khi đến 2 đến 4 tuần cuối. Lượng nước ối khi đủ tháng là khoảng 1000ml (800-1200ml), bất kì lúc nào trong thời kỳ mang thai mà lượng nước ối vượt qua 2000ml thì đều là nước ối quá nhiều. Hầu hết các phụ nữ mang thai nước ối sẽ tăng chậm, được hình thành trong một khoảng thời gian tương đối dài, được gọi là đa ối mãn tính, một số ít phụ nữ mang thai có nước ối tăng mạnh trong vài ngày, được gọi là đa ối cấp tính.

Quá ít nước ối: Các triệu chứng của thiểu ối là gì? Thiểu ối chủ yếu được biểu hiện thực tế là các mẹ bầu có thể cảm nhận thai nhi chuyển động rất rõ ràng và khi thai động cảm thấy đau bụng. Tử cung nhạy cảm, khi kiểm tra thường chỉ vì bị kích thích nhẹ mà tử cung co lại. Nhịp tim của thai nhi tăng nhanh, chu vi bụng và chiều cao tử cung thường nhỏ hơn so với các thai phụ khác cùng thời kỳ.

Thiểu ối thường dẫn đến chuyển dạ kéo dài trong khi sinh con, thai nhi dễ bị ngạt trong tử cung. Nếu màng bị vỡ thì có thể nhìn thấy một lượng nhỏ nước ối dính. Có khi thiểu ối hơi khó chẩn đoán, dễ bị bỏ qua. Kiểm tra siêu âm cho thấy lượng nước ối giảm đáng kể. Cũng có ý kiến cho rằng, hễ quá thời kỳ mang thai đồng thời có hội chứng tăng huyết áp do mang thai hoặc trước khi chuyển dạ có hiện tượng thay đổi thai nhi mà không tìm được bất kỳ nguyên nhân thì nên xem xét khả năng bị thiểu ối.

Độ sâu của nước ối: Độ sâu của nước ối là một thuật ngữ y học, là một chỉ số quan trọng để đánh giá lượng nước ối. Nếu nước ối nhiều, thai nhi có thể khỏe mạnh phát triển, nếu nước ối ít có thể gây ứ đọng phân su khi chuẩn bị sinh, thậm chí sinh non hoặc bị ngạt. Kiểm tra siêu âm cho thấy độ sâu thẳng đứng của phần nước ối lớn nhất, độ sâu nước ối từ 3-7cm là thể tích nước ối bình thường. ≤2cm là nước ối quá ít, ≥8cm là nước ối quá nhiều.

Độ đục của nước ối: Nước ối vào cuối thai kỳ hơi đục là do có các chất chuyển hóa của thai nhi trong nước ối, điều này là bình thường. Nếu như trong màng nước ối bị nhiễm trùng, quá nhiều lipid, ứ mật thai kỳ, thai nhi thiếu oxy trong tử cung…, nước ối trong thời kỳ giữa mang thai sẽ đục hơn.

Nên lấy mẫu nước ối để xem mức độ đục của nước ối. Nếu nước ối thực sự bị đục, thì đây thể hiện việc thai nhi thải ra trong nước ối.

Nguyên nhân của tình trạng rất có thể là do thai nhi thiếu oxy. Nên chủ động tìm nguyên nhân cho việc điều trị. Theo dõi ngay nhịp tim của thai nhi, xem nhịp tim của thai nhi có bình thường hay không để ước tính tình trạng thiếu oxy của thai nhi. Đồng thời, nên thử ngủ nghiêng bên trái bên phải và thở oxy y tế để tăng lượng máu cung cấp cho nhau thai, giảm việc thiếu oxy của thai nhi. Ngoài ra nên khám thai thường xuyên.

Mẹ bầu thiểu ối phải làm như thế nào?

Thiểu ối và dị tật thai nhi

Nếu đã chẩn đoán được dị tật thai nhi thì nên chấm dứt việc mang thai càng sớm càng tốt. Có thể chọn dùng siêu âm để chích Athacridine Lactate vào vùng màng nước ối để chuyển dạ.

Thiểu ối và thai nhi bình thường 

Khi phát hiện ra thiểu ối, nhưng thai nhi đang phát triển bình thường nên tìm hiểu nguyên nhân để loại bỏ. Có thể cải thiện chức năng nhau thai và chống nhiễm trùng bằng cách tăng lượng nước ối. Phụ nữ mang thai nên tự mình đếm chuyển động của thai nhi và ghi lại để theo dõi. Bác sĩ nên tiến hành đánh giá sinh lý thai nhi. Thông qua theo dõi động lực siêu âm, tỷ lệ thể tích nước ối và tốc độ lưu lượng máu tối đa tâm thu so với tốc độ dòng máu tâm trương tối thiểu (S/D), tiến hành theo dõi điện tử thai nhi, theo dõi chặt chẽ tình trạng tử cung.

Chăm sóc hàng ngày 

Các mẹ bầu có quá ít nước ối đề nghị khi nghỉ ngơi nằm nghiêng bên trái để cải thiện việc cung cấp máu cho nhau thai. Các mẹ bầu nên duy trì tâm trạng vui vẻ và hợp tác điều trị. Các thành viên trong gia đình cũng nên dành sự quan tâm và chăm sóc tâm lý nhiều hơn để giúp loại bỏ những lo lắng về tâm lý.

Đa ối thì phải làm như thế nào?

Chăm sóc hàng ngày

Phụ nữ mang thai bị nước ối quá nhiều cần đảm bảo chế độ ăn ít muối và giảm lượng nước họ uống. Nghỉ ngơi trên giường nhiều hơn, nằm nghiêng bên trái, cải thiện tuần hoàn nhau thai tử cung, ngăn ngừa sinh non. Chỉ số nước ối và tình hình tăng trưởng của thai nhi cũng cần được xem xét hàng tuần.

Chữa trị y học

Việc điều trị đa ối chủ yếu dựa trên việc có bị dị tật thai nhi và tuần thai, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng của thai phụ. Nếu nước ối được chẩn đoán là quá nhiều, bác sĩ đa khoa sẽ yêu cầu siêu âm độ nét cao để xem thai nhi có bị biến dạng hay không. Cũng có thể thực hiện chọc ối để xem thai nhi có khiếm khuyết di truyền hay không. Đồng thời trong thời kỳ mang thai còn lại, cần thường xuyên thực hiện theo dõi tim thai và kiểm tra siêu âm để theo dõi chặt chẽ sự tăng trưởng và phát triển của thai nhi.

Nếu có quá nhiều nước ối kèm với dị tật thai nhi, cần phải chấm dứt thời kỳ mang thai, làm vỡ màng nhân tạo thường được sử dụng để tạo ra sự chuyển dạ. Nếu thai nhi bình thường, nên thực hiện các biện pháp sau:

1. Chích để giảm áp lực nước ối: Đối với các triệu chứng chèn ép nghiêm trọng, tuần thai còn nhỏ, thai nhi chưa trưởng thành, có thể xem xét chọc ối để giảm triệu chứng và kéo dài tuần thai.

2. Điều trị ức chế Synthetase tuyến tiền liệt: Thuốc cần được theo dõi chặt chẽ đồng thời theo sự thay đổi thể tích nước ối và tình trạng tim thai, nếu lượng nước ối giảm đáng kể hoặc hẹp ống thông động mạch, cần phải dừng thuốc ngay lập tức.

3. Điều trị theo nguyên nhân: Nếu mang thai và có bệnh tiểu đường do nước ối quá nhiều, cần phải khống chế lượng đường trong máu, nếu nhóm máu mẹ và con không hòa tan do nước ối quá nhiều, thai nhi không trưởng thành và bị sưng phù, hoặc máu dây rốn cho thấy Hb <60g/L, nên xem xét truyền máu trong tử cung cho thai nhi.

4. Điều trị trong khi sinh: Chuyển dạ tự nhiên nên được chọc ối nhân tạo càng sớm càng tốt. Nếu cơn co tử cung vẫn còn yếu sau khi vỡ màng ối, nồng độ oxytocin thấp có thể tiêm tĩnh mạch, tăng cường co bóp tử cung và tiến trình chuyển dạ phải được theo dõi chặt chẽ. Thai nhi sau khi sinh ra nên kịp thời dùng thuốc co tử cung để ngừa xuất huyết sau khi sinh.

Nước ối bị đục thì phải làm sao?

Độ đục của nước ối thường do chất béo hoặc phân su trộn trong nước ối và các trường hợp ứ mật thai kỳ khác. Nếu chỉ đơn giản là độ đục nhẹ do mỡ thai nhi gây ra, vấn đề không lớn, đó là tình trạng bình thường, nói chung không gây hại cho thai nhi, không cần điều trị đặc biệt.

Nếu nước ối là do phân su khiến nước ối bị đục, tình trạng này cho thấy thai nhi có khả năng bị thiếu oxy trong tử cung và cần bổ sung oxy. Trong trường hợp thiếu oxy thì nên được điều trị ngay lập tức. Làm theo lời khuyên của bác sĩ để kiểm tra hoặc thở oxy. Đồng thời, cần theo dõi tim thai ngay lập tức để xem nhịp tim thai có bình thường không. Nên nằm bên trái và thở oxy để tăng lượng máu cung cấp cho nhau thai và làm giảm việc thiếu oxy cho thai nhi. Nếu tình hình nghiêm trọng, có thể cần phải chấm dứt thai kỳ và sinh mổ kết thúc việc sinh nở.

Sự khác biệt giữa độ sâu của nước ối và chỉ số nước ối

Sự khác biệt giữa độ sâu của nước ối và chỉ số nước ối: Độ sâu của nước ối và chỉ số nước ối là hai khái niệm khác nhau. Nhiều bà mẹ đang bối rối. Hãy xem sự khác biệt giữa độ sâu nước ối và chỉ số nước ối.

Độ sâu nước ối: Đó là độ sâu thẳng đứng của phần siêu âm. Nói chung, độ sâu của nước ối (AFV) 3-7cm là thể tích nước ối bình thường, ≤2cm cho thấy nước ối quá ít, ≥8cm cho thấy lượng nước ối quá nhiều. Đây là một thuật ngữ y học và là một chỉ số quan trọng để đánh giá lượng nước ối.

Chỉ số nước ối: Tử cung được chia thành bốn góc: phía trên bên trái, phía trên bên phải, phía dưới bên trái và bên dưới bên phải. Tổng độ sâu thẳng đứng của vùng sâu của phần nước ối nhiều nhất ở bốn góc là chỉ số nước ối.

Chỉ số nước ối chung từ 9-24cm là thể tích nước ối bình thường. Nếu chỉ số nước ối ≥25cm được chẩn đoán là đa ối, trong đó chỉ số nước ối (AFI) từ 25-35cm là đa ối nhẹ, 36-45cm là đa ối trung và >45cm là đa ối nghiêm trọng. Khi chỉ số nước ối ≤5cm là nước ối quá ít và ≤8cm là lượng nước ối hơi ít.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây