Chuyên Mục Bệnh

Ung thư vú: dấu hiệu – nguyên nhân – phòng tránh và điều trị

Ngày 8 Tháng Năm, 2020

Nguyên nhân gây ung thư vú

Ung thư vú là một trong những loại bệnh ung thư ác tính thường gặp nhất ở phụ nữ, theo thống kê chiếm 7-10% các loại ung thư. Nó thường liên quan tới di truyền, tỉ lệ phát bệnh cao nhất ở phụ nữ 40-60 tuổi, trước và sau thời kỳ mãn kinh. Chỉ có 1-2% bệnh nhân ung thư vú là nam giới. Nguyên nhân chính gây ung thư vú gồm có:

Có kinh sớm, mãn kinh muộn

Tỉ lệ phát bệnh ung thư vú ở 0-24 tuổi khá thấp, từ sau 25 tuổi tăng dần, 50-54 tuổi đạt đỉnh cao nhất, và giảm dần sau 55 tuổi. Tỉ lệ mắc bệnh của người có kinh nguyệt trước 12 tuổi gấp 2.2 lần so với người có kinh nguyệt sau 17 tuổi. Tỉ lệ mắc bệnh của người mãn kinh sau 55 tuổi gấp đôi so với người mãn kinh trước 45 tuổi. Kinh nguyệt có sớm và mãn kinh nguyệt là 2 nguyên nhân lớn nhất gây ung thư vú ở phụ nữ.

Yếu tố di truyền

Các nghiên cứu phát hiện ra rằng, phụ nữ có mẹ bị ung thư vú trước khi mãn kinh có nguy cơ bị ung thư vú cao gấp 9 lần so với người bình thường. Hơn nữa độ tuổi bình quân xuất hiện ung thư vú của thế hệ sau của bệnh nhân ung thư vú trẻ hơn 10 tuổi. Người có chị em bị ung thư vú có nguy cơ cao gấp 3 lần người bình thường. Cần nhấn mạnh rằng ung thư vú không phải di truyền trực tiếp mà là một loại di truyền “tố chất ung thư”, người thân của bệnh nhân bị ung thư vú không nhất định sẽ bị ung thư mà chỉ là có nguy cơ hơn người bình thường.

Yếu tố kết hôn và sinh đẻ

Nghiên cứu chỉ ra rằng, phụ nữ kết hôn nhưng không sinh con và phụ nữ có con đầu lòng sau 30 tuổi đều là những yếu tố bất lợi, nhưng phụ nữ không kết hôn có nguy cơ cao gấp đôi so với người kết hôn. Chuyên gia cho rằng, sinh đẻ có tác dụng bảo vệ nhất định đối với bầu ngực, nhưng chỉ đối với những người sinh con đủ tháng trước 30 tuổi. Các nghiên cứu gần đây cho rằng, cho con bú có tác dụng bảo vệ phụ nữ trước nguy cơ ung thư vú, chủ yếu là đối với phụ nữ trước tuổi mãn kinh.

Bức xạ ion hoá

Vú rất nhạy cảm với hoạt động gây ung thư của bức xạ ion hóa. Khi còn trẻ, đây là giai đoạn hoạt động phân bào của vú. Đây là giai đoạn nhạy cảm nhất với tác động gây ung thư của bức xạ ion hóa. Trong số những người sống sót sau vụ đánh bom nguyên tử ở Nagasaki, Nhật Bản, tỷ lệ ung thư vú đã tăng đáng kể. Những người được xạ trị ngực ở thời thơ ấu và thanh thiếu niên cũng tăng nguy cơ phát triển ung thư vú khi lớn lên.

Thói quen ăn uống không lành mạnh

Thói quen ăn uống không tốt sẽ làm tăng tỉ lệ bị ung thư vú, tỉ lệ mắc bệnh và tử vong có liên hệ chặt chẽ với lượng mỡ tiêu thụ. Chất lượng cuộc sống được nâng cao dần, nhiều người có thói quen ăn đồ có nhiều nhiệt lượng và chất béo, làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư vú.

Thói quen sinh hoạt không lành mạnh

Có những người là nhân viên văn phòng ngồi nhiều, hoạt động ít, ít tập luyện, ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Hoạt động đổ mồ hôi dưới ánh nắng sẽ giúp cơ thể loại bỏ chất thải mang tính axit, nhưng ngày nay đa số mọi người đi xe, lượng vận động giảm, lâu dần sẽ tích tụ chất thải axit trong cơ thể. Phụ nữ khi đi làm luôn phải thường xuyên mặc áo ngực bí bách, hiếm khi bầu ngực được “dễ thở”, còn có những người bị áp lực công việc, theo đuổi sự nghiệp, sống một mình, không kết hôn sinh con. Những yếu tố này đều có thể liên quan tới ung thư vú.

Tinh thần ức chế, căng thẳng quá độ

Nghiên cứu cho thấy, những người hướng nội tinh thần thường xuyên bị ức chế kìm nén, áp lực càng ngày càng lớn, khi những áp lực này không được giải toả thì chúng sẽ ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ. Cuộc sống không hạnh phúc cũng là yếu tố gây ung thư. Cuộc sống đô thị phải đối mặt với áp lực cao, tinh thần luôn trong trạng thái căng thẳng khiến cảm xúc bất ổn. Những yếu tố tinh thần này cộng với thói quen sinh hoạt không lành mạnh đều có thể gây hại tới sức khoẻ.

Hormone

Ung thư vú có liên quan tới sự mất cân bằng nội tiết, trong các loại hormone quan trọng nhất là estrogen, progesterone. Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ, estrogen kích thích tế bào thượng bì tuyến vú tăng sinh quá mức, là nguyên nhân chính gây ung thư vú. Thường xuyên dùng sản phẩm hormone và hormone dành cho phụ nữ mãn kinh có thể tăng nguy cơ ung thư vú.

Thuốc

Có những loại thuốc như thuốc hạ huyết áp reserpin, phenothiazole và các loại thuốc steroid khác làm tăng tỉ lệ mắc ung thư vú. Một số sản phẩm chăm sóc sức khỏe, sản phẩm chăm sóc da và mỹ phẩm có chứa các thành phần gây ung thư khi sử dụng phải thật thận trọng. Ngoài ra, các thành phần gây hại trong không khí, dư lượng thuốc trừ sâu trên rau và trái cây, tất cả đều có các thành phần gây ung thư ở những mức độ khác nhau.

Dấu hiệu sớm của ung thư vú

Ngực có cục u

Góc phần tư phía trên của bầu ngực là vị trí dễ phát hiện ung thư nhất, đa phần không có bất cứ triệu chứng gì, thường là những u cục cứng không có quy luật, ít di động, khi tắm hoặc tự kiểm tra có thể phát hiện được.

Đầu ngực tiết dịch

Khi không trong thời kỳ cho con bú đầu ngực chảy dịch màu trắng, vàng nhạt, nâu hoặc đỏ, dạng nước hoặc mủ, đặc biệt là dịch như máu có thể là do viêm khối u, xuất huyết, hoại tử gây ra. Có những phụ nữ còn trẻ tuổi đầu ngực tiết dịch dạng sữa, có thể là do nội tiết bất thường. Dịch tiết ra dạng đặc cũng có thể do viêm, không nhất định là ung thư vú. Theo thống kê, một bên ngực tiết dịch, 12-25% là biểu hiện của ung thư vú.

Đầu ngực biến đổi

Do khối u xâm chiếm đầu ngực hoặc quầng vú, khiến đầu ngực bị lệch hoặc thụt vào.

Thay đổi màu da cục bộ

Vùng da ngực thay đổi dạng vỏ quýt, tức da phù thũng và lỗ chân lông lõm xuống rõ rệt, hoặc da ngực xuất hiện “lúm đồng tiền”, hoặc có hạch nhỏ dưới da, đây là biểu hiện chính của ung thư vú. Có một loại gọi là ung thư vú dạng viêm, biểu hiện thời kỳ đầu là da vùng ngực giống như có chàm.

Hạch bạch huyết sưng to

Số ít bệnh nhân có triệu chứng là hạch bạch huyết trong hõm nách sưng to.

Hai bên ngực không cân đối

Do có khối u hoặc dính với thành ngực nên bên ngực đó thay đổi về kích thước hoặc hình dạng.

Đau ngực

Một số bệnh nhân có triệu chứng đau ngực lâm râm, hoặc đau nhói, hoặc căng đau.

Nhóm người nguy cơ cao

Tuổi tác tăng cao, các yếu tố về gen di truyền, phương thức sinh hoạt khác nhau, khiến một số nhóm phụ nữ có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn những người khác. Đặc điểm của họ như sau:

  1. Gia đình có người bị ung thư vú, ung thư buồng trứng (nếu cha mẹ, chị em bị ung thư vú thì gia đình thuộc nhóm người nguy cơ cao).
  2. Phụ nữ chưa sinh con hoặc sinh sau 35 tuổi, hoặc trên 40 tuổi chưa sinh con hoặc chưa cho con bú.
  3. Có kinh từ trước 12 tuổi, mãn kinh muộn sau 55 tuổi.
  4. Thể chất béo phì.
  5. Điều trị phơi nhiễm hormone hoặc thay thế hormone.
  6. Thường xuyên ăn đồ giàu chất béo hoặc mỡ động vật, thích ăn thịt bò chín.
  7. Từng làm phẫu thuật ở vùng ngực hoặc khung chậu.
  8. Tiếp xúc quá nhiều với phóng xạ hoặc chất gây ung thư (ví dụ, thường xuyên chụp X-quang hoặc xạ trị).
  9. Bị di căn đến vú thông qua các bệnh ung thư khác (ví dụ: những người mắc ung thư tuyến nội mạc tử cung).
  10. Căng thẳng thần kinh mãn tính, ít vận động.

Cách tự kiểm tra phát hiện ung thư vú

Thời gian tốt nhất để tự kiểm tra là 1 tuần sau khi hết kinh, vì trước hoặc trong kỳ kinh tuyến vú có hiện tượng sung huyết (ứ máu) sinh lý, tế bào tuyết sữa tăng sinh và ống sữa phình to, khiến mô tuyết sữa to lên, ảnh hưởng kết quả kiểm tra. Nếu kinh nguyệt không đều thì tốt nhất kiểm tra vào cùng 1 thời gian của mỗi tháng.

Kiểm tra bằng cách quan sát bên ngoài

Đứng thẳng trước gương, cởi áo, chiếu sáng đầy đủ, kiểm tra hai bên bầu ngực xem có cân đối không, chú ý kích thước to nhỏ, thay đổi bất thường. Bất thường chủ yếu gồm có: đầu vú chảy dịch, đầu vú tụt vào trong, da nhăn, lõm xuống như lúm đồng tiền, bong da hoặc hình dạng vú thay đổi bất thường.

Kiểm tra bằng cách sờ

Giơ tay trái lên, dùng lòng của 3 ngón tay phải (ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út) chậm rãi, tỉ mỉ chạm vào bầu ngực, di chuyển theo hướng thuận chiều hoặc ngược chiều kim đồng hồ, từ vòng ngoài bầu ngực, ít nhất 3 vòng, cho tới đầu ngực. Cũng có thể kiểm tra từ trên xuống dưới, nhưng chú ý không được bỏ qua bất cứ chỗ nào. Đồng thời cũng kiểm tra hạch bạch huyết dưới nách xem có bị sưng không. Cuối cùng dùng ngón cái và ngón trỏ ép đầu ngực xem có tiết dịch không. nếu có dịch đục, hơi vàng hoặc đỏ cần lập tức đi khám ngay. Kiểm tra tương tự với bên còn lại.

Kiểm tra với tư thế nằm

Giơ tay quá đầu đặt trên gối, hoặc dùng khăn mặt gấp lại kê dưới vai. Tư thế này để bầu ngực được nằm phẳng dễ kiểm tra, cách kiểm tra giống như phương pháp 2. 

Ung thư vú phát hiện càng sớm thì khả năng chữa khỏi càng lớn. Mỗi tháng tự kiểm tra một lần, nếu phát hiện bất thường lập tức đi khám để phát hiện sớm, điều trị sớm.

Phương pháp điều trị ung thư vú

Điều trị ung thư vú bắt buộc phải phát hiện sớm, điều trị sớm có thể chữa khỏi tới 90%. Nhất định không được bỏ qua tự kiểm tra, càng phát hiện sớm càng có lợi cho điều trị. Phương pháp chữa trị gồm có phẫu thuật, chiếu xạ, hoá trị, điều trị nội tiết tố. Hiện nay đa số đều áp dụng phương pháp tổng hợp với phẫu thuật là chủ yếu.

Phẫu thuật

Phương pháp điều trị phẫu thuật cắt bỏ đã có trăm năm lịch sử, hiện tại vẫn là phương pháp điều trị ung thư vú chủ yếu, và có hiệu quả nhất khi điều trị ung thư vú chưa có di căn hạch bạch huyết dưới nách.

Xạ trị

Thông thường dùng xạ trị sau khi phẫu thuật để tránh tái phát cục bộ. Xạ trị ung thư vú giai đoạn muộn có thể làm giảm kích thước khối u, và một số thậm chí có thể giúp ung thư vú di căn không thể phẫu thuật thành có thể phẫu thuật cắt bỏ. Có một số tác dụng giảm nhẹ nhất định đối với các tổn thương tái phát cục bộ và di căn xương của ung thư vú. Tuy nhiên, đối với những bệnh nhân bị ung thư vú giai đoạn đầu không bị di căn bạch huyết, việc xạ trị thường quy là không cần thiết để tránh làm tổn hại chức năng miễn dịch.

Điều trị nội tiết tố

Những trường hợp không thể phẫu thuật hoặc xạ trị, xét nghiệm thụ thể estrogen dương tính, có thể điều trị nội tiết tố độc lập hoặc kết hợp. Thuốc và cách thức điều trị căn cứ từng trường hợp nhất định.

Hoá trị

Điều trị chống ung thư bằng thuốc hóa học là một liệu pháp bổ trợ toàn thân cần thiết (cyclophosphamide, lomustine, chlorambucil). Phương pháp điều trị mỗi người là khác nhau, và tùy thuộc vào tình trạng bệnh. Điều quan trọng là phải khám chi tiết cụ thể trước khi tiến hành điều trị.

Điều trị miễn dịch

Vào những năm 1970, Mỹ đã thúc đẩy một khái niệm sử dụng các chất biến đổi phản ứng sinh học để tăng sức đề kháng của cơ thể đối với các khối u. Phương pháp này được gọi là liệu pháp BRM hoặc liệu pháp miễn dịch. Từ những năm 1970, Coriolus versicolor , Schizophyllum polysacarit và lentinan đã được phê duyệt ở Nhật Bản. Phellinus igniarius polysacarit đã được phê duyệt là thuốc miễn dịch và chống ung thư ở Hàn Quốc, củng cố thêm địa vị của liệu pháp BRM, đồng thời cũng thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng các thành phần hoạt tính sinh học của nấm. 

Trong thời gian điều trị ung thư vú nên ăn gì

Khi chăm sóc bệnh nhân ung thư vú trước hết nên giúp họ duy trì sự lạc quan. Thứ hai là chú ý điều chỉnh chế độ ăn uống trong quá trình hóa trị. Trong quá trình hóa trị, nên tăng hấp thụ protein và đường, giảm thực phẩm nhiều chất béo và cholesterol.

  1. Ăn nhiều thực phẩm tăng cường miễn dịch, chống ung thư. Bắp cải, cải thảo chứa chất chống ung thư, có thể ngăn chặn các chất gây ung thư gây ra các tế bào khối u và ức chế sự phát triển của khối u. Tỏi, hành tây chứa  allicin, có thể ngăn chặn sự tổng hợp ammonium nitrite, và chứa vitamin C, vitamin A và các thành phần khác có tác dụng chống ung thư.
  2. Ăn nhiều thực phẩm bổ sung protein. Trong quá trình hóa trị cho bệnh nhân ung thư vú, trong khi thuốc tiêu diệt tế bào ung thư, các tế bào bình thường cũng sẽ bị tổn thương ở một mức độ nhất định, dẫn đến các hiện tượng bất lợi ức chế đường tiêu hoá và tủy xương, như giảm khả năng miễn dịch, giảm bạch cầu và loét đường tiêu hóa, buồn nôn, nôn. Tại thời điểm này nên bổ sung một số thực phẩm giàu protein, như sữa, thịt nạc, cá, gan động vật, chà là đỏ, đậu đỏ.
  3. Ăn một số loại thực phẩm khai vị như táo gai, đậu lăng trắng, củ cải, nấm, trần bì, giúp tăng sự thèm ăn và giảm nôn.
  4. Thực phẩm để ích khí dưỡng huyết như nước gừng tươi, nước mía, nước trái cây tươi, phật thủ, cà chua, lúa mạch, đậu lăng trắng, linh chi, mộc nhĩ, hạt hướng dương.
  5. Ăn nhiều trái cây tươi giàu vitamin B, C có tác dụng chống ung thư nhất định như kiwi, mơ, táo, lê, dâu tây… Bạn có thể thường xuyên ăn táo tàu trong quá trình hóa trị, vì táo tàu không chỉ chứa nhiều thành phần chống ung thư như axit maslinic, mà còn có tác dụng chữa bệnh giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu do hóa trị.
  6. Hạt khô chứa nhiều nguyên tố vi lượng, vitamin, chất xơ, protein và axit béo không bão hòa, và giá trị dinh dưỡng của chúng tương đối cao, vì vậy có thể ăn một cách thích hợp trong quá trình hóa trị. Ngoài ra vừng, hạt bí ngô, hạt dưa hấu, đậu phộng, nho khô, quả óc chó cũng đều tốt.

Cần chú ý tránh ăn đồ chiên dầu, muối chua, không ăn các loại có gia vị kích thích mạnh.

Cách dự phòng ung thư vú

Chú ý cân bằng dinh dưỡng: Kiểm soát lượng chất béo và protein động vật, tăng cường tập thể dục, tránh thừa cân béo phì. Ăn ít hoặc không có thực vật, thực phẩm động vật có chứa estrogen.

Nuôi con bằng sữa mẹ: Cố gắng cho nuôi con bằng sữa mẹ, tránh dùng estrogen, đặc biệt là phụ nữ ở độ tuổi mãn kinh.

Tránh tia phóng xạ: Giảm tiếp xúc với tia bức xạ, tăng cường chống nắng.

Tích cực chữa trị những bệnh lành tính ở ngực.

Học cách tự kiểm tra: Phụ nữ từ 40 tuổi trở lên nên học cách tự kiểm tra, từ 45 tuổi trở lên càng cần phải chú ý hơn. Những người có dấu hiệu như ngứa vùng ngực, da dày, thay đổi hình dạng ngực, có tiết dịch, đau ngực không liên quan tới kỳ kinh, thì nên đi kiểm tra.

Các loại thực phẩm phòng chống ung thư vú

  1. Các loại trái cây tươi: như nho, kiwi, chanh, dâu tây, cam quýt, quả sung, quả mâm xôi đen… Những loại trái cây này không chỉ chứa nhiều vitamin, mà còn có khả năng tổng hợp nitrosamine chống ung thư và chống ung thư.
  2. Các loại rau xanh: như cà chua, cà rốt, súp lơ, bí ngô, tỏi, hành lá, măng tây, dưa chuột, xơ mướp, củ cải, và một số loại rau lá xanh. Đậu nành + cải thảo là một loại thực phẩm phòng ngừa cổ điển. Đậu nành chứa estrogen thực vật có thể ức chế hiệu quả việc sản xuất estrogen trong cơ thể, estrogen quá cao là một trong những nguyên nhân chính gây ung thư vú. Bông cải xanh và rau mầm cũng là loại rau tốt, giúp hình thành muối vô cơ và ức chế sự phát triển của khối u.
  3. Các loại nấm: như  nấm linh chi, nấm đen, nấm hương, nấm hầu thủ là những chất điều chỉnh phản ứng sinh học tự nhiên, có thể tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, tăng cường sức đề kháng và có tác dụng chống ung thư mạnh mẽ.
  4. Các loại hạt vỏ cứng: chứa rất nhiều chất chống oxy hóa, có thể đóng vai trò chống ung thư.
  5. Các loại cá: cá vàng, ba ba, cá chạch bùn, cá hố, bạch tuộc, mực, hải sâm, hàu, tảo bẹ, vì chúng giàu nguyên tố vi lượng, có tác dụng bảo vệ vú và ức chế ung thư.

Để ngăn ngừa ung thư vú, bạn thường nên ăn nhiều thực phẩm giàu vitamin A. Đồng thời, bạn cũng có thể ăn nhiều thực phẩm giàu iốt. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng máu của bệnh nhân khối u chủ yếu là axit, trong khi các thực phẩm như rong biển chứa nhiều iốt và canxi có thể điều chỉnh và cân bằng độ pH của máu, do đó có tác dụng phòng chống ung thư nhất định.

Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng thực phẩm chứa các nguyên tố vi lượng kẽm và selen có tác dụng đặc biệt trong việc ngăn ngừa ung thư vú. Selen có thể ngăn ngừa sự kết hợp của chất gây ung thư và axit deoxyribonucleic trong các tế bào bình thường, do đó ngăn ngừa và chữa trị ung thư, và kẽm có thể ức chế ung thư ở các bộ phận cơ thể khác nhau. Thực phẩm có hàm lượng kẽm cao là hàu, cá thu, lươn, tảo bẹ, đậu, vừng, quả óc chó. Thực phẩm có hàm lượng selen cao là cá, thịt lợn thăn, tỏi, nấm, hành tây, cà chua, bí ngô

Đọc toàn bộ bài viết

Ths.Bs Trương Thị Thúy Mai

Ths.Bs Trương Thị Thúy Mai chuyên khoa nhi tại bệnh viện nhi đồng 1 tại Tp.HCM. Có rất nhiều năm kinh nghiệm chuyên môn. Bác Mai có vai trò chuyên môn cao tại khoa nhi của bệnh viện.


Tải Ứng Dụng MammyKids Miễn Phí