Vỡ ối sớm: nguy hiểm không – nguyên nhân – điều trị – xử lý

0
128

Vỡ ối sớm là gì

Sau khi mang thai 30 tuần, do thai nhi vẫn tiếp tục phát triển, tử cung lớn dần chèn ép lên bàng quang, nếu mẹ đi tiểu nhiều thì đó là hiện tượng bình thường, nhưng nếu mẹ tiểu ra giường thì cần cảnh giác, nên kiểm tra xem có phải bị vỡ màng ối sớm không. Vỡ màng ối sớm là triệu chứng thường thấy trong sinh nở, có thể gây ra nhiều loại nhiễm trùng, các mẹ cần lưu ý.

Vỡ màng ối sớm là chỉ màng ối rách tự nhiên trước khi sinh. Vỡ màng ối sớm khi thai nhi dưới 37 tuần tuổi còn gọi là sinh non (không đủ tháng). Vỡ màng ối khi thai nhi trước 37 tuần tuổi có tỉ lệ 2~3.5%. Vỡ màng ối sớm (preterm Premature rupture of membranes, PPROM) là biến chứng thường thấy nhất trong chu kỳ sinh, có thể gây ra hậu quả xấu tới thai sản phụ, thai nhi và trẻ sơ sinh. Vỡ màng ối sớm có thể làm tăng tỷ lệ sinh non, tăng tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong, tăng cả tỷ lệ nhiễm trùng trong tử cung và nhiễm khuẩn sản.

Các kiểu vỡ màng ối sớm

  • Vỡ màng ối sớm chưa đủ tháng: vỡ màng ối khi thai nhi chưa đủ 37 tuần tuổi.
  • Vỡ màng ối sớm đủ tháng: vỡ màng ối khi thai nhi từ đủ 37 tuần tuổi.

Nguyên nhân gây vỡ ối sớm

Thai nhi phát triển không bình thường

Ngoài yếu tố bản thân màng ối, nếu thai phụ thiếu vitamin C, đồng, hoặc thai phụ hút thuốc, có thể khiến thai nhi phát triển không tốt. Thai phụ thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin C, D, aminoglucose (thành phần cấu tạo nên tế bào màng ối), có thể khiến màng ối giòn, dễ vỡ. Nếu thiếu đồng, kẽm màng ối sẽ kém đàn hồi, và dễ vỡ hơn.

Chức năng cổ tử cung không hoàn thiện

Khi không mang thai, miệng trong cổ tử cung có thể không hề bị cản trở mà mở tới 8cm, là có thể chẩn đoán chức năng cổ tử cung không hoàn thiện. Chức năng cổ tử cung không hoàn thiện chủ yếu biểu hiện ở miệng trong cổ tử cung lỏng lẻo và khiếm khuyết mỏm đốt sống.

Áp lực trong khoang tử cung bất thường

Áp lực trong khoang tử cung không đều hay gặp khi đầu thai nhi và khung chậu của mẹ chênh lệch, vị trí thai nhi bất thường. Áp lực trong tử cung quá lớn thường thấy ở mẹ mang song thai, dư nước ối, ho mạnh và đại tiểu tiện khó.

Bị thương hoặc kích thích từ máy móc

Chủ yếu chia thành 2 loại do tác động ý học và không tác động y học. Loại do không tác động y học thường thấy là sinh hoạt vợ chồng trong thai kỳ. Loại do tác động y học gồm nhiều lần chọc ối, nhiều lần kiểm tra âm đạo và rạch màng ối gây chuyển dạ.

Viêm đường sinh dục

Viêm âm đạo, viêm cổ tử cung dễ làm nhiễm trùng màng ối gây vỡ màng ối sớm. Nguyên nhân gây nhiễm trùng màng ối khá phức tạp, có vi khuẩn, nhóm vi khuẩn mycoplasma, vi khuẩn chlamydia, đặc biệt là nhiễm khuẩn mycoplasma và chlamydia thường không có dấu hiệu rõ rệt, mẹ không dễ gì phát hiện ra.

Vị trí thai nhi không đúng

Những mẹ mang đa thai, dư nước ối, do áp lực bên trong ối quá lớn dễ gây vỡ màng ối sớm. Thai nhi ngược, nằm ngang, hoặc đầu thai nhi và khung chậu của mẹ không tương xứng, có thể khiến áp lực trong màng ối không đều mà gây vỡ màng ối sớm.

Yếu tố khác

Ho nhiều mà mạnh, táo bón, nâng vật nặng đều có thể làm tăng áp lực màng ối dễ gây vỡ màng ối sớm.

Dấu hiệu vỡ màng ối sớm

Vỡ màng ối sớm có thể gây biến chứng sinh non, sa dây rốn, nhiễm trùng tử cung. Có đến 30% thai phụ sinh non là do vỡ màng ối sớm. Biểu hiện lâm sàng là chảy nước phía dưới, có thể ít hoặc nhiều nước. Do khi vỡ màng ối không có cảm giác đau nên nhiều mẹ nghĩ đó là nước tiểu (nhiều nước ối) hoặc chảy khí hư (ít nước ối).

Triệu chứng

Có hoặc không có nguyên nhân đột nhiên chảy nước âm đạo, lượng nước có thể nhiều hoặc ít. Chảy nước liên tục, thời gian chảy lúc ít lúc nhiều, ban đầu nhiều rồi giảm dần, số ít chảy nước gián đoạn, chảy nước âm đạo thường liên quan tới sự thay đổi vị trí cơ thể và hoạt động của thai phụ.

Biểu hiện cơ thể

Khi thai phụ nằm ngửa có thể thấy âm đạo chảy nước, cũng có thể không có nước chảy ra. Nếu không có nước chảy ra, khi khám hậu môn, nâng túi cùng âm đạo lên, đẩy đầu thai nhi lên ấn vào đáy tử cung hoặc khi thai phụ thay đổi tư thế có thể sẽ chảy nước ra từ âm đạo, chú ý rằng sau những thao tác đó vẫn có thể không có nước chảy ra. Nước chảy ra thường loãng, có thể lẫn phân thai hoặc mỡ thai. Người có triệu chứng khẩn cấp có thể phải đem đồ dùng cá nhân, băng vệ sinh vào viện kiểm tra kỹ hơn.

Chẩn đoán vỡ màng ối sớm

Kiểm tra hậu môn

Khi áp lực bụng tăng, như khi ho, hắt xì, mang vật nặng nước ối liền chảy ra, khi kiểm tra hậu môn, đẩy thai nhi lên trên, có thể thấy nước chảy ra từ  âm đạo.

Máy dò âm đạo

Khi kiểm tra bằng máy dò âm đạo có thể thấy chất dịch lẫn mỡ thai chảy ra từ cổ tử cung.

Kiểm tra độ pH dịch âm đạo

Bình thường dịch âm đạo có độ pH 4.5-5.5, pH nước ối 7.0-7.5, của nước tiểu là 5.5-6.5. Kiểm tra bằng giấy nitrazine, dịch âm đạo mang tính kiềm thì giấy từ màu vàng chuyển thành xanh lam hoặc lam nhạt, được coi là dương tính, nghiêng về nước ối, khả năng vỡ màng ối sớm là khá lớn.

Kiểm tra phết dịch tế bào

Lấy dịch từ cổ tử cung hoặc túi cùng âm đạo để kiểm tra.

  • Phết dịch âm đạo lên miếng kính để khô tự nhiên, quan sát dưới kính thấy kết tinh hình răng dê, có nghĩa là màng ối đã vỡ.
  • Phết dịch âm đạo lên miếng kính, sau khi khô dùng nile blue chloride nhuộm màu, nếu tìm thấy tế bào màu vàng cam thành chồng, không theo nguyên tắc hoặc dùng sudan III nhuộm màu nếu phát hiện hạt màu vàng cam thì đều có nghĩa là màng ối vỡ sớm.

Nội soi màng ối

Có thể nhìn trực tiếp ngôi thai, nếu không thấy màng ối thì có thể chẩn đoán vỡ màng ối sớm.

Kiểm tra siêu âm

Chẩn đoán bằng siêu âm chủ yếu là quan sát sự thay đổi lượng nước ối và tình hình phân bố nước ối để chẩn đoán, nếu nước ối giảm rõ rệt trong lần kiểm tra vài ngày gần nhất, có thể hỗ trợ chẩn đoán vỡ ối sớm. Nước ối phân bố không đều, ví dụ chênh lệch giữa đường kính vũng ối lớn nhất và lớn thứ hai khá lớn, có thể hỗ trợ chẩn đoán vỡ ối sớm.

Chú ý

Vỡ ối sớm điển hình rất dễ chẩn đoán, nhưng vỡ ối sớm không điển hình thì thường do chẩn đoán muộn mà có hậu quả nghiêm trọng. Tình trạng lâm sàng thường thấy là mẹ tự thấy một ít nước chảy ra từ âm đảo, nhưng khi tới bệnh viện khám thì dừng chảy.

Kiểm tra không thấy nước chảy ra, đồng thời kiểm tra dịch âm đạo pH<7.0, nên loại trừ vỡ ối sớm, không xử lý và quan sát cần thiết, cứ như vậy xảy ra nhiều lần, cho tới khi khoang màng ối bị nhiễm trùng mới biết vỡ ối sớm.

Cần làm gì khi bị vỡ màng ối

Vỡ màng ối sớm đủ tháng

Chữa trị vỡ màng ối sớm đủ tháng quan sát 12-24 tiếng, 80% sản phụ có thể sinh bình thường. Sau khi chuyển dạ theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, co thắt tử cung, lượng chảy ra, tính trạng và mùi của nước ối chảy ra, khi cần thiết thì siêu âm kiểm tra lượng nước ối, dùng monitor sản khoa kiểm tra co thắt tử cung, nắm bắt tình hình thai nhi trong tử cung.

Nếu quá trình chuyển dạ thuận lợi thì đợi sinh tự nhiên, nếu không thì cần phẫu thuật. Nếu chưa chuyển dạ mà phát hiện triệu chứng nhiễm trùng khoang màng ối rõ rệt thì cần lập tức dùng kháng sinh và đỡ đẻ ngay.

Nếu kiểm tra bình thường, sau khi vỡ màng ối 12 tiếng, dùng kháng sinh chống nhiễm trùng, sau 24 tiếng vẫn chưa chuyển dạ và đầu thai nhi, khung xương chậu bình thường thì nên kích đẻ.

Vỡ màng ối sớm chưa đủ tháng

Chữa trị vỡ màng ối sớm chưa đủ tháng rất khó khăn, một mặt phải kéo dài thời gian mang thai để giảm rủi ro về bệnh và tử vong của trẻ sơ sinh, mặt khác sau khi vỡ ối, không tránh được nhiễm trùng hoặc sự nhiễm trùng từ trước nghiêm trọng hơn, làm tăng mức độ nguy hiểm của biến chứng nhiễm khuẩn sản, cũng có thể gây ra những hậu quả xấu cho mẹ và bé sau khi sinh.

Hiện nay nguyên tắc xử lý khi vỡ màng ối sớm không đủ tháng như sau: nếu phổi của thai chưa trưởng thành, không có triệu chứng nhiễm trùng lâm sàng rõ rệt, không bị suy thai thì chờ chữa trị. Nếu phôi thai đã trưởng thành hoặc có triệu chứng nhiễm trùng lâm sàng rõ rệt thì cần đỡ đẻ ngay lập tức. Với mẹ bị suy thai, cần tiến hành chữa trị theo nguyên nhân thiếu oxy trong tử cung.

Chờ chữa trị

Theo dõi kỹ lưỡng thân nhiệt, nhịp tim, độ co thắt tử cung, số lượng bạch cầu, protein phản ứng c của thai phụ, để phát hiện sớm các dấu hiệu nhiễm trùng, kịp thời chữa trị, tránh kiểm tra hậu môn và âm đạo khi không cần thiết.

Dùng kháng sinh

Vỡ ối sớm đủ tháng dùng kháng sinh có thể giảm nguy cơ thai nhi bị nhiễm trùng máu và xuất huyết não, nhiễm trùng túi thai và viêm nội mạc tử cung. Đặc biệt có tác dụng tốt nhất đối với người dương tính với nuôi cấy vi sinh nước ối. Nhiễm trùng liên cầu khuẩn nhóm B dùng penicillin, mycoplasma và chlamydia dùng erythromycin hoặc roxithromycin.

Nếu không rõ nhiễm trùng do gì, có thể dùng kháng sinh phổ rộng loại B, thường dùng lactam antibiotics. Có thể cho thuốc gián đoạn, nếu ban đầu dùng ampicillin hoặc cephalosporin tiêm tĩnh mạch, sau 48 tiếng thay bằng thuốc uống. Nếu sau khi vỡ ối mà không chuyển dạ, hơn nữa không có dấu hiệu nhiễm trùng lâm sàng rõ rệt, thì ngừng dùng kháng sinh, khi bắt đầu chuyển dạ dùng thuốc tiếp.

Dùng thuốc ức chế co thắt tử cung

Với người không có triệu chứng cần dừng quá trình mang thai ngay, có thể dùng thuốc ức chế co thắt tử cung để tránh sinh non. Nếu không có co thắt tử cung rõ ràng, có thể uống Ritodrine. Người có dấu hiệu co thắt tử cung, tiêm thuốc tĩnh mạch, sau khi hết co thắt dùng thuốc uống.

Tăng lượng nước ối

Nếu tuổi thai còn nhỏ, nước ối giảm rõ rệt, có thể truyền bổ sung nước ối để giúp phổi thai phát triển. Nếu có biểu hiện dây rốn chịu áp lực rõ rệt (cst hiển thị liên tục giảm tốc độ), truyền nước ối có thể giảm áp lực lên dây rốn.

Glucocorticoid tuyến thượng thận kích thích sự trưởng thành phổi thai

Vỡ màng ối sớm trước tuần 35 nên tiêm tĩnh mạch betamethasone 12mg , mỗi ngày 1 lần, tổng cộng 2 lần, hoặc tiêm dexamethasone 10mg, mỗi ngày 1 lần, tổng cộng 2 lần.

Dừng mang thai

Khi phổi thai trưởng thành hoặc có dấu hiệu nhiễm trùng lâm sàng rõ rệt, nên lập tức cho dừng mang thai. Nếu vị trí thai bất thường hoặc cổ tử cung chưa trưởng thành, oxytocin kích đẻ không thành công, nên căn cứ khả năng sinh tồn của thai nhi sau sinh, suy nghĩ tới mổ đẻ hoặc đổi cách kích đẻ.

Tác hại khi vỡ màng ối sớm

Đối với mẹ

Viêm màng ối

Còn gọi là nhiễm khuẩn tử cung, tỉ lệ xảy ra khoảng 1.5%-10%. Dấu hiệu lâm sàng có sốt, mạnh nhanh tới 100 lần/phút, tim thai nhanh, tử cung có cảm giác chèn ép và đau, nếu nước ối có mùi hôi có nghĩa là nhiễm trùng đã nghiêm trọng.

Tổng số lượng bạch cầu≥15×109/l, bạch huyết cầu≥90%, dương tính với nuôi cấy vi sinh nước ối. Nhiễm trùng tử cung rất có hại cho trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ sinh non, tỉ lệ trẻ bị nhiễm trùng máu, viêm phổi rất cao, đó là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong trẻ sơ sinh.

Tăng tỉ lệ sinh khó

Vị trí thai bất thường có thể gây vỡ màng ối sớm, do vậy những mẹ bị vỡ ối sớm cần chú ý xem khung chậu có bị hẹp không, vị trí đầu thai nhi và khung chậu có không đối xứng không, vị trí đầu thai nhi có bất thường không.

Xuất huyết sau sinh

Nhiễm khuẩn tử cung có thể ảnh hưởng tới túi rụng và cơ tử cung, ảnh hưởng co thắt tử cung khiến xuất huyết nhiều hơn, nếu nghiêm trọng thì phải cắt bỏ tử cung.

Tắc mạch ối

Khi vỡ màng ối sớm tiêm tĩnh mạch oxytocin, nếu dùng không đúng có thể khiến nước ối, đặc biệt là nước ối lẫn phân thai từ tĩnh mạch cổ tử cung đi vào hệ tuần hoàn của mẹ, gây tắc mạch ối, nguy hiểm tới tính mạng của mẹ.

Nhau thai bong non

Có thể gây tử vong thai nhi, thai phụ xuất huyết nhiều, rối loạn chức năng đông máu, thậm chí tử vong, nguy hiểm tới tính mạng của thai nhi và thai phụ, tăng rủi ro phải sinh mổ.

Đối với thai nhi

Sinh non

30%~40% sinh non liên quan tới vỡ màng ối sớm. Trẻ sinh non dễ bị các biến chứng như suy hô hấp sơ sinh, thai nhi và trẻ sơ sinh xuất huyết não, viêm ruột hoại tử, làm tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh.

Nhiễm trùng

Khi vỡ màng ối sớm biến chứng viêm màng ối, thường gây nhiễm trùng thai nhi và trẻ sơ sinh, biểu hiện thành viêm phổi, nhiễm trùng máu, nhiễm trùng não. Mức độ nhiễm trùng liên quan tới độ dài ngắn của thời gian vỡ màng ối. Nếu vỡ màng ối trên 24 tiếng tỉ lệ nhiễm trùng sẽ tăng cao.

Sa dây rốn hoặc tăng áp lực lên dây rốn

Nếu thai nhi chưa tiếp xúc liền với đáy xương chậu, sau khi vỡ màng ối sẽ làm tăng rủi ro sa dây rốn. Do vỡ màng ối khiến nước ối giảm, tăng áp lực tới dây rốn hoặc dẫn đến suy thai. Nếu nước ối chảy hết có thể gây ra “đẻ khan”.

Phổi thai phát triển bất thường và hội chứng thai nhi bị chèn ép

Phổi thai phát triển bất thường gây ra phổi tràn khí, tăng áp động mạch phổi, tiên lượng quá trình sinh không tốt. Khi vỡ màng ối, tuổi thai càng nhỏ, gây nước ối giảm càng sớm, thì tỉ lệ phổi thai nhi bất thường càng cao.

Nếu thời gian ủ bệnh của vỡ màng ối dài quá 4 tuần, mức độ ít nước ối nghiêm trọng, có thể khiến thai nhi chịu áp lực rõ rệt trong tử cung, biểu hiện thành tay hình xẻng, chân vòng cung, mũi tẹt.

Phòng tránh vỡ màng ối sớm

Vỡ màng ối sớm thường là hệ quả của nhiều yếu tố, do đó cần tích cực phát hiện và xử lý sớm các yếu tố nguy cơ cao để đề phòng toàn diện. Muốn đề phòng vỡ màng ối sớm, ngoài chú ý dinh dưỡng trong thai kỳ, bổ sung vitamin C và nguyên tố vi lượng, còn phải chú ý chăm sóc, vận động hàng ngày.

Tăng cường kiến thức, giảm tỷ lệ sảy thai và phải kích đẻ, đảm bảo sức khỏe về thể xác và tinh thần cho thai phụ. Trước khi mang thai cần kiểm tra toàn diện xem có bị viêm âm đạo không, có bị dị tật đường sinh sản không, tích cực điều trị và đề phòng nhiễm trùng đường sinh sản.

Định kỳ kiểm tra tiền sản để phát hiện biến chứng và chữa trị kịp thời. Vị trí thai bất thường có thể chỉnh lại khi thai nhi 28~32 tuần, cần chú ý hơn nếu khung chậu hẹp. Thai phụ có cổ tử cung lỏng và dão, tiến hành khâu cổ tử cung khi thai 14~16 tuần tuổi và phải nằm nghỉ ngơi.

Bổ sung vitamin C và nguyên tố vi lượng theo chỉ dẫn của bác sĩ. Có thể ăn nhiều rau xanh, trái cây để tăng cường vitamin C, ăn nhiều thực phẩm có hàm lượng đồng cao, như hạt cứng, hải sản, gan động vật, tiểu mạch, các loại củ, hàu. Trong thai kỳ, mẹ cần duy trì tốt tâm trạng, không căng thẳng để tránh sinh non.

Trong thai kỳ tránh làm việc cần nhiều thể lực, tránh mệt mỏi quá mức, không vận động mạnh, hàng ngày duy trì tâm trạng vui vẻ.

Chú ý sinh hoạt vợ chồng vừa phải, đặc biệt là trong 3 tháng cuối thai kỳ. Tháng cuối thai kỳ nghiêm cấm quan hệ để tránh kích thích tử cung dẫn đến vỡ màng ối sớm. còn phải tránh bị thương và va đập bên ngoài bụng. Nếu có hiện tượng “đái dầm” phải đi khám kịp thời.

Không nên đi bộ lâu, không được chạy. Đi bộ phải chú ý tránh ngã, đặc biệt là khi đi cầu thang. Tuyệt đối không mang vác vật nặng và không được để bị giật nảy khi đi trên đường trong thời gian dài.